Hoàng Phi Sở Đặc Công Số 11

Chương 182: Chương 182: Lần lượt gặp lại cố nhân




Đối với Sở Kiều, mùa thu năm nay như trôi qua trong mật ngọt, phủ Tư mã thưa thớt lá thu nhưng lại chìm trong biển cúc vàng nở rộ, khiến quang cảnh trong phủ càng thêm tráng lệ. Ngày tháng chậm rãi trôi qua, hương vị ngọt ngào ấm áp như mùa xuân tháng ba luôn vương vấn trong không trung, mãi cũng không tan đi.

Nhân dịp lễ hội mùa thu, Sở Kiều theo Gia Cát Nguyệt rời phủ lên núi Hương Chi cách đó ba mươi dặm du ngoạn, thuận tiện ghé vào An Nguyên tự lễ bái.

Tuy từng sống ở thành Chân Hoàng bảy tám năm nhưng Sở Kiều chưa từng có cơ hội đi thăm các di tích hay thắng cảnh nội ngoại hoàng thành. Một là do thân phận không tiện, hai là cũng không có tâm trạng đi chơi. Song hôm nay nàng đã bỏ lại mọi tang thương lại sau lưng, cũng đã không còn ôm ấp chuyện cũ trong lòng, thế là bắt đầu muốn đi nhìn ngó đây đó.

Hôm nay thời tiết cực kỳ đẹp, trời trong xanh, gió mát phe phẩy, vô cùng khoan khoái lòng người. Sở Kiều mặc y phục gấm màu xanh nhạt thêu bách điệp, khoác áo choàng nhung, dẫn theo một đám người hớn hở vì được ra ngoài chơi, thong thả lên đường.

Núi Hương Chi tọa lạc ở phía nam thành Chân Hoàng, đứng sừng sững giữa một bình nguyên trống trải, đỉnh núi quanh năm không đổi luôn trắng toát, như một con rồng vươn đầu lên mây. Con đường lên núi được vây trong rừng phong rậm rạp, từ trên nhìn xuống, khung cảnh như chìm trong biển lá đỏ như lửa, đẹp không sao tả xiết. Hôm nay là lễ hội mùa thu nên nhà giàu trong thành đều lũ lượt lên núi ngắm cảnh, tiếng cười đùa vui vẻ theo suốt đường đi, vô cùng náo nhiệt.

Thanh Thanh và Bình An dẫn Mặc Nhi chạy trước, luôn miệng hò hét xem ai chạy nhanh hơn. Hạ Tiêu, Đa Cát và nhóm Nguyệt vệ đi ở hai bên trái phải. Nguyệt Thất nhân dịp lễ hội, muốn bù đắp cho vợ hiền nhà mình nên cũng dẫn Tiểu Phi theo.

Gia Cát Nguyệt dắt tay Sở Kiều, thỉnh thoảng kể vài chuyện xưa, không khí hết sức vui vẻ. Hiếm khi vị thiếu gia đại nhân này có được tâm trạng tốt nên mọi người cũng thoải mái tham gia nói chuyện. Nhóm người đi quanh hai người tựa như tinh tú vây quanh mặt trăng. Du khách đi ngang đều không khỏi nhìn sang, thắc mắc không biết là quý nhân nhà ai xuất hành.

Gia Cát Nguyệt luôn rất bận rộn, vừa là Tư mã bộ binh của Đại Hạ vừa là phiên vương Thanh Hải, hiện giờ chàng cơ hồ đã trở thành người có tiếng nói nhất Gia Cát gia, chức vụ cao thì trách nhiệm nhiều, ngoài sự vụ trong triều thì còn phải thời thời khắc khắc đề phòng Triệu Dương và Bắc Yến trong ngoài tập kích. Mấy ngày nay, tuy ngày nào chàng cũng đúng giờ trở về ăn cơm cùng Sở Kiều, cùng nàng đi nghỉ ngơi, nhưng đêm khuya tỉnh giấc đều không thấy chàng bên cạnh, đẩy cửa sổ ra liền có thể nhìn thấy thư phòng sáng đèn trắng đêm.

Mấy chuyện này nàng luôn làm ra vẻ không biết, tiếp tục trở về giường ngủ, sáng hôm sau chỉ cười hỏi chàng ngủ ngon không, nhìn chàng mắt thâm quầng cười đáp lời rằng ngủ rất ngon.

Thân thể Gia Cát Nguyệt cũng không tốt như bề ngoài, năm đó bị thương nặng như vậy còn ngâm mình trong hồ băng thật lâu, có thể sống sót thì phải cảm tạ ông trời thương tình, chuyện này đã để lại di chứng, mỗi khi trời trở lạnh thì bệnh tình càng rõ rệt hơn.

Mưa mùa thu rất lạnh, mỗi khi trời giăng đầy mây đen thì sắc mặt chàng sẽ rất tệ. Có một lần tỉnh giấc vào nửa đêm, nàng nghe được tiếng thở khó nhọc của chàng, cổ rịn mồ hôi lạnh, sống lưng ướt đẫm khiến y phục dán chặt vào da thịt.

Lúc đó, Sở Kiều vẫn im lặng không nói gì, trong bóng tối nàng mở to mắt nhìn dạ minh châu đính trên trần, siết chặt nắm tay, môi mím đến trắng bệch, chậm rãi đếm đồng hồ nước lẳng lặng chờ trời sáng. Sáng hôm sau, nàng liền lập tức cho người mang thêm chậu than vào phòng, thậm chí còn dụng tâm chỉ huy một đám thợ chỉnh sửa gian phòng để giữ khí ấm, sau mười ngày thì biến phòng ngủ thành như hỏa lò vậy.

Sáng hôm qua lúc ăn điểm tâm, Thanh Thanh và Bình An có nhắn đến lễ hội mùa thu trên núi náo nhiệt đến thế nào, nàng cũng chỉ thuận miệng phụ họa hai câu. Vậy mà Gia Cát Nguyệt lại ghi nhớ, lúc đó không nói gì nhưng hôm sau lại viện cớ có chuyện phải lên núi bái Phật, sẵn tiện dẫn nàng theo du ngoạn.

Qua nhiều năm như vậy, Gia Cát Nguyệt vốn là một người kiêu ngạo cố chấp, chưa bao giờ tin thần tin phật. Bị nàng cười nhạo, chàng lại quay sang cười cười, thần bí nói cái gì Phật khác có thể không vái lạy, nhưng có một Phật nhất định phải lễ bái.

Lúc đoàn người Sở Kiều tiến vào thiên điện của An Nguyên tự, mặt nàng lập tức đỏ ửng. Bọn Thanh Thanh cười ha hả, chỉ có Tiểu Phi là thành kính dập đầu, hơn nữa còn quay lại nhìn chằm chằm một đám tiểu bối bất kính không mời mà đến này.

Hương nhang lượn lờ trong đại điện trang nghiêm, tượng Quan Âm Tống Tử* được đặt ngay ngắn trên Phật đường rực rỡ ánh nắng. Gia Cát Nguyệt cúi xuống thì thầm bên tai nàng, ngữ khí ẩn chứa ý cười ấm áp, “Bái Phật phải thành tâm.”

*Quan Âm Tống Tử tượng trưng cho con cái thịnh vượng.

Sở Kiều quay đầu lại, nhìn thấy hai mắt hắn sáng ngời, môi điểm nụ cười, pha lẫn chút thật tình rồi lại có chút nghịch nghợm của trẻ con.

Nàng xoay người lại, thản nhiên quỳ xuống, chắp tay trước ngực, trong lòng mặc niệm lời khấn mà ngàn vạn phụ nữ từng đến đây cầu xin, sau đó chống tay lên bồ đoàn*, thành tâm vái lạy.

*Bồ đoàn: tấm đệm lót trên mặt đất dùng để thiền, quỳ lạy.

s://shiro2chi.files.wordpress.com/2010/10/nytd-c17-bo-doan.jpg?w=300&h=200

Lạy lần một, cầu bồ tát phù hộ chàng khỏe mạnh, gặp dữ hóa lành.

Lạy lần hai, cầu bồ tát phù hộ hai chúng con được bình an ở cùng nhau, không phải cách xa nữa.

Lạy lần ba, cầu bồ tát ban phước cho chúng con sinh được một đứa trẻ khỏe mạnh.

Sở Kiều thành kính dập đầu từng cái một, trên mặt mang vẻ thỏa mãn cùng bình yên trước nay chưa từng có.

Bồ tát, ngài đã phù hộ cho nhiều người như vậy, hôm nay mong ngài có thể nghe được ước nguyện của con.

Thanh Thanh và Mặc Nhi ở đằng sau cười giỡn không ngừng, Tiểu Phi thì đang tận tình khuyên bảo bọn họ tôn trọng Phật đường. Ở một góc, Hạ Tiêu và đám người Nguyệt Thất đang nhàn nhã đứng nói chuyện phiếm, nói đến chuyện một thiếu úy trong doanh trại đi hoa lâu bị vợ bắt quả tang, bị rượt chạy trên đường thì đồng loạt cười ha hả.

Cuối thu trời hơi lạnh, bầu trời cao vời vợi, Sở Kiều quỳ trong thiên điện, ngẩng lên nhìn tượng Quan Âm, cảm thấy lòng vô cùng yên bình. Tất cả gió tanh mưa máu trong trí nhớ như đã là dĩ vãng rất xa, tâm trí nàng chưa bao giờ tĩnh lặng như ngày hôm nay.

Gia Cát Nguyệt đỡ Sở Kiều dậy, hai tay ôm ngang eo nàng, đôi môi lành lạnh hôn nhẹ lên mi tâm nàng, dịu dàng nở nụ cười.

Thanh Thanh tinh mắt, lập tức kéo Tiểu Phi, miệng tía lia: “Thất tẩu, Thất tẩu, tẩu mau nhìn kìa, tỷ tỷ với tỷ phu mới đang thất kính với Phật!”

Tất cả nghe được đều thấp giọng cười trộm. Gia Cát Nguyệt vẫn trơ mặt làm lơ, còn Sở Kiều thì đỏ mặt, nhẹ đẩy hắn ra, nhưng tay vẫn nắm chặt tay hắn.

“Có muốn ở lại ăn đồ chay không?” Gia Cát Nguyệt hỏi nàng.

Sở Kiều còn chưa kịp đáp thì nhìn thấy Bình An ở một bên đang ra sức nháy mắt với mình, lập tức hiểu ý nói: “Xuống núi thôi, đám người chúng ta dẫn theo đều là động vật ăn thịt, vẫn không nên miễn cưỡng bọn họ học đòi văn vẻ thì hơn.”

Mặc Nhi nhe răng cười he he, Bình An lập tức hớn hở chạy đến ca ngợi đồ ăn ở Đắc Nguyệt lâu mỹ vị ra sao, Thanh Thanh ở bên cạnh cũng ra sức phụ họa. Gia Cát Nguyệt gõ lên đầu Bình An một cái, cười mắng một câu 'tiểu tử thối' rồi dẫn mọi người rời khỏi Phật đường nghiêm trang.

Sau khi bỏ ra một số lớn tiền hương hỏa, tăng nhân trong tự chuẩn bị cho bọn họ một khuôn viện yên tĩnh nghỉ ngơi tạm. Bọn Nguyệt Thất đi chuẩn bị xe ngựa, để lại Gia Cát Nguyệt và mấy người Sở Kiều ngồi giữa khung cảnh đầy lá phong, nhàn nhã thưởng trà.

Mới ngồi một lát thì Tiểu Phi đã thấp thỏm không yên. Sở Kiều tưởng Tiểu Phi có chuyện khó nói thì kéo nàng ấy đến thiên viện. Chẳng ngờ cô nàng ngượng ngùng hồi lâu, cuối cùng mới đỏ mặt nói cho Sở Kiều biết rằng trong miếu Quan Âm Tống Tử có một thầy tướng số xem bói vô cùng chính xác, còn bán dược rất linh nghiệm. Nàng hai lần sinh được con trai đều nhờ uống thuốc của ông thầy nọ. Nhưng nói sao thì Nguyệt Thất và thiếu gia cũng không tin nên chỉ có thể lén đi mua.

Sở Kiều dĩ nhiên không tin mấy chuyện tướng số linh dược gì đó, thầm nhủ trong bụng, sinh được con trai là công lao của Nguyệt Thất, liên quan gì tới ông thầy kia chứ? Nhưng thấy Tiểu Phi khẩn khoản như thế thì cũng không nỡ cự tuyệt, nàng đành viện cớ nói với Gia Cát Nguyệt một tiếng rồi cùng Tiểu Phi đi đến gian hàng của ông thầy tướng số bên bìa rừng thông.

Ông thầy tướng số kia râu tóc bạc trắng, vóc dáng cao gầy thong dong, nhìn cũng có mấy phần tiên phong đạo cốt.

Ông thầy nhìn thấy Sở Kiều liền lập tức nói nàng là người đại phú đại quý, chỉ là cuộc sống có nhiều ràng buộc vướng mắc, chỉ cần nàng thành tâm hướng Phật thì tự nhiên sẽ có phương pháp hóa giải. Tiểu Phi liên tục gật gù, không ngừng nháy mắt với Sở Kiều như muốn nói: Thấy chưa, lời của tiên sinh nói thật chính xác.

Nhưng Sở Kiều thì biết tỏng mánh khóe của mấy người hành nghề này, ai sống trên đời mà chẳng có vài chuyện phiền lòng, còn về phần đại phú đại quý, chỉ cần nhìn quần áo trên người bọn họ cũng có thể dễ dàng đoán ra được.

Tiểu Phi ngồi xổm xuống trước quầy hàng, say sưa rút thăm bói vận may vận rủi. Sở Kiều đang buồn chán đứng cạnh chờ thì chợt thoáng thấy một thân ảnh quen thuộc, khiến nàng sững sờ đứng chết trân tại chỗ.

Ngẫm nghĩ một lúc, nàng cúi đầu dặn dò Tiểu Phi mấy câu rồi lặng lẽ đi về hướng người nọ.

Chớp mắt đã sáu năm không gặp.

Giữa rừng thông đỏ lửa, người nọ một thân áo trắng đơn giản, thần thái tươi sáng phóng khoáng năm xưa đã không còn. Gió thu thổi qua lay động ống tay áo trống rỗng, phe phẩy như nhành liễu trước gió.

“Điện hạ, có khát nước không?” Một thị tùng khoảng mười tám mười chín tuổi đi đến, người mặc nam trang nhưng qua giọng nói trong trẻo liền có thể nhận ra là một thiếu nữ, nàng đưa lưng về phía Sở Kiều nên không nhìn rõ mặt.

Triệu Tung xoay người lại, khuôn mặt từng phúng phính không buồn không lo hiện tại đã trở nên xương xương, vóc dáng vẫn cao ráo nhưng lộ ra vẻ mệt mỏi cùng cô đơn, vẻ tinh nghịch liến thoắng đã được thay bằng vẻ điềm tĩnh như giếng cổ trăm năm. Mới hơn hai mươi tuổi mà tóc mai hai bên thái dương đã hoa râm.

Hắn lắc đầu, bình thản nói: “Ta muốn đi dạo một mình.”

Thiếu nữ kia vẫn không nhúc nhích, chỉ hơi cúi đầu, nắm chặt túi nước trong tay. Gió thổi qua sườn mặt nghiêng nghiêng của nàng, mơ hồ có hơi quen thuộc. Nàng đột nhiên ngẩng đầu lên nhìn Triệu Tung, nhẹ giọng hỏi: “Điện hạ đang chờ ai vậy?”

Một thoáng dao động xẹt qua trên mặt Triệu Tung, hắn cau mày nói: “Nàng muốn nói gì?”

“Điện hạ đã rất lâu không xuất phủ, vì sao hôm nay lại đột nhiên có hứng như vậy?”

Mi tâm Triệu Tung nhíu chặt hơn, hắn nhìn thẳng vào mắt cô thiếu nữ một lúc, cuối cùng xoay người rời đi.

Thiếu nữ hoảng hốt, vội vàng đuổi theo kéo tay áo Triệu Tung, bi thương nói: “Điện hạ quên lời của Thập Tứ điện hạ rồi sao?”

Triệu Tung bị nàng lôi kéo, chậm rãi xoay đầu lại dùng ánh mắt như đầm sâu nhìn cô thiếu nữ mặc nam trang kia, trầm giọng nói: “Vô Tâm, cũng chẳng phải trên đời này tất cả mọi người đều nợ nàng, có cần nung nấu nỗi hận lâu đến như vậy không?” Dứt lời liền xoay người đi vào rừng phong.

Thiếu nữ đứng xoay lưng về phía Sở Kiều ngây người tại chỗ, thân hình mảnh khảnh như có thể bị gió cuốn đi bất cứ lúc nào dần dần bị bao phủ trong vẻ cô đơn tĩnh mịch. Nàng cứ đứng yên như vậy một lúc thật lâu, cuối cùng nhẹ nâng tay áo chà lên má như đang lau gì đó rồi nhấc chân đuổi theo hướng Triệu Tung vừa rời đi.

Chim tước trong rừng cất tiếng hót réo rắt, Sở Kiều như mơ hồ nhìn thấy hình ảnh của rất nhiều năm trước, thiếu niên mặc y phục xanh ngọc thêu chim tước ngũ sắc, trong tay cầm một cái roi ngựa nhỏ, đắc ý nói với nàng: “Trong tất cả hạ nhân ở đây, ta thấy ngươi thuận mắt nhất, ta sẽ phong cho ngươi làm đại tướng giữ cửa chỗ ta, thế nào hả?”

Một cơn gió thổi qua, nàng đột nhiên thấy lạnh lẽo.

Đâu đó vang lên tiếng Tiểu Phi gọi tên nàng, Sở Kiều phục hồi tinh thần, nắm tay bà mẹ tốt sinh hai con trai vẫn chưa thấy đủ, chậm rãi quay trở về.

Đi dạo hơn nửa ngày tất cả đều đã thấm mệt, trên đường xuống núi mọi người đều ngồi yên trong xe ngựa. Gia Cát Nguyệt thấy nàng ủ rũ thì cau mày hỏi nàng có phải bị mệt không. Sở Kiều gật đầu *ừm* một tiếng rồi tựa đầu lên vai hắn, cố gắng nhắm mắt lại nhưng làm sao cũng không ngủ được.

Gia Cát Nguyệt nắm tay nàng, thấy tay nàng lạnh như băng thì thoáng lo lắng, dặn Nguyệt Thất cho xe chạy nhanh hơn một chút.

“Triệu Triệt sắp thành thân rồi.”

Sở Kiều sửng sốt ngẩng đầu lên. Gia Cát Nguyệt cười cười, nói tiếp: “Mấy năm nay vận số hắn luôn không tốt, sắp sửa già đến nơi mới rước được người về nhà. Nàng không quen biết tân nương nhưng gặp rồi chắc sẽ thích. Nàng ấy là con gái út của thủ lĩnh Đông Hồ, tên Hoàn Nhan Nhu. Mặc dù tên có chữ 'nhu' nhưng tính tình tuyệt đối không dính dáng đến gì đến hai chữ 'ôn nhu', ngược lại là một nha đầu ngang ngược lớn lối, có điều tâm địa lương thiện đơn thuần. Người vào kinh rồi thì ta sẽ dẫn nàng đi gặp.”

Sở Kiều gật đầu, chợt nhớ tới chuyện gì đó, nhưng cuối cùng vẫn không nói ra.

Sau lễ hội mùa thu, thời tiết bắt đầu lạnh đi, mặt hồ dần đóng băng, sau một trận bão tuyết, trời đất liền bị bao phủ bởi một màu trắng xóa. Ai cũng lười ra ngoài, chỉ muốn ở trong phòng vùi mình vào chăn ấm.

Mấy ngày nay, phủ Tư mã người đến người đi không ngừng, Gia Cát Nguyệt dường như càng bận rộn hơn, ngay cả Nguyệt Thất cũng mất dạng không thấy. Nghe Tiểu Phi nói là bị Gia Cát Nguyệt phái ra làm việc đã bảy tám ngày rồi.

Tối hôm đó Sở Kiều lơ đãng hỏi thăm một câu, Gia Cát Nguyệt lại làm ra vẻ huyền bí, nói là sắp sửa cho nàng một bất ngờ lớn.

Bất ngờ rất nhanh được hé lộ, ba ngày sau, Tôn Đệ ở Biện Đường phái người đến thành Chân Hoàng đưa cho nàng một phong thư riêng cùng công văn chính thức của triều đình.

Thì ra là Đại tư mã của Đại Hạ cho người đến Biện Đường cầu hôn Tú Lệ vương, sính lễ cũng được đưa vào cung Kim Ngô luôn rồi.

Lúc Sở Kiều nhận được tin thì Gia Cát Nguyệt đang nhàn nhã nằm trên giường, một tay chống đầu, như cười như không liếc nhìn nàng.

Sở Kiều đi đến trước mặt hắn, chìa lá thư ra hỏi: “Thế này là thế nào?”

Gia Cát Nguyệt thản nhiên đáp: “Còn thế nào nữa? Trai lớn lấy vợ gái lớn gả chồng là chuyện theo lẽ thường nhất trên đời.”

Sở Kiều cau mày, “Nhưng thân phận ta khó xử như vậy, với địa vị của chàng hiện giờ, chẳng lẽ triều đình không chỉ trích?”

Gia Cát Nguyệt cười một tiếng, khinh thường nói: “Gia Cát Nguyệt ta thành thân thì liên quan gì đến bọn họ mà chỉ trích với không chỉ trích?”

Trong lòng như có dòng nước ấm chảy qua, nụ cười không kìm được tràn ra khỏi khóe môi, Sở Kiều ngồi xổm xuống tựa đầu lên đùi Gia Cát Nguyệt, hồi lâu cũng không nhúc nhích.

Gia Cát Nguyệt ngồi dậy ôm nàng vào lòng, cúi đầu dùng cằm cọ cọ tóc nàng, nhẹ giọng nói: “Ta mong ước đã nhiều năm như vậy, làm sao có thể để nàng lặng yên không tiếng động mà vào cửa nhà ta chứ? Nhất định phải chiêu cáo toàn thiên hạ, để cho mọi người biết nàng là người của ta.”

Sau đó trong phủ chợt trở nên vô cùng bận rộn. Sở Kiều không rõ Gia Cát Nguyệt đã dùng thủ đoạn cùng phương pháp gì, chỉ trong một đêm mà giai cấp thượng tầng ở thành Chân Hoàng tựa như đã bị mất sạch trí nhớ vậy, chẳng ai nhớ được nàng từng hỗ trợ Yến Tuân đánh đốt thành Chân Hoàng trước khi rời khỏi đây, chẳng ai nhớ được nàng đã hai lần đập tan quân Bắc Phạt của Đại Hạ, thậm chí còn không nhớ nàng từng đích thân giết chết Tam hoàng tử Triệu Tề.

Mấy ngày liên tiếp đều có quý phu nhân của các thế gia lần lượt tới bái phỏng, đủ loại quà cáp như nước chảy vào trong phủ Tư mã. Ngay cả đám đại thần không về phe Triệu Triệt và Gia Cát Nguyệt cũng thi nhau tặng lễ vật lấy lòng.

Đầu tháng 12, cung Thịnh Kim đột nhiên truyền ra tin tức Hạ hoàng nguy kịch, muốn Gia Cát Nguyệt tiến cung hầu hạ.

Theo lý thì khi hoàng đế bệnh nặng, có gọi thì phải gọi hoàng tử và thân vương vào hầu hạ chứ chẳng ai gọi đại thần bao giờ. Nhưng hoàng đế đang hấp hối, không biết sẽ đi lúc nào nên chẳng ai đoán được sẽ xảy ra chuyện gì. Cảnh tiểu vương gia, Mộc tiểu công gia ở Lĩnh Nam và thế tử phiên vương các nơi thi nhau xin vào cung, lúc này mà để Triệu Triệt một mình trong cung đúng là không khôn ngoan. Bất đắc dĩ Gia Cát Nguyệt đành phải đồng ý vào cung. Thật ra thì hoàng đế đang hấp hối, làm gì có hơi sức ý kiến muốn ai hầu hạ, chỉ là đám người Triệu Dương không yên tâm để Gia Cát Nguyệt thong dong bên ngoài vào lúc này mà thôi. Vì vậy, cung Thịnh Kim đột nhiên trở nên vô cùng náo nhiệt, tất cả thế lực cầm quyền ở Đại Hạ đều tụ tập cùng một chỗ.

Vào cái đêm mà tất cả đầu lĩnh quốc gia tiến cung, quân Đông Hồ đóng ở tây thành lại nảy sinh xung đột với thân vệ của Cảnh tiểu vương gia, cụ thể là vì nguyên nhân gì thì chẳng ai rõ. Khi Sở Kiều bị tiếng ồn ào đánh thức thì bầu trời phía tây đã đỏ rực, tiếng kêu thét rung trời. Binh sĩ xin vào cung báo tin đều bị ngăn ở cửa cung, hiển nhiên là có người cố ý dung túng.

Nửa canh giờ sau, xung đột càng lúc càng lan rộng, thân binh của Mộc tiểu công gia cũng gia nhập vòng chiến. Vậy mà đội duy trì trật tự ở thành Chân Hoàng vẫn bình chân như vại, bất kể cho dân chúng ở tây thành có khóc than đến đâu thị bọn họ vẫn án binh bất động, khoanh tay đứng nhìn binh mã hai bên sống mái với nhau.

Nhân cơ hội này, vô số bang phái lưu manh lớn nhỏ trong thành liền thừa nước đục thả câu, cướp phá một hồi vẫn không thấy ai để ý thì càng thêm hung hãn. Tiếng kêu khóc vang dậy khắp thành, người dân đều run rẩy trốn trong nhà, không biết khi nào thì đến phiên mình.

Sở Kiều dặn dò thị vệ trong phủ cẩn thận canh phòng, đóng chặt cửa phủ, tuyệt đối không ra ngoài nửa bước. Hạ Tiêu và nhóm thân vệ Nguyệt Lục của Gia Cát Nguyệt cùng nhau chịu trách nhiệm phòng ngự trong phủ.

Không đầy một chốc sau, trước cửa đột nhiên sáng rực ánh đuốc, tựa như đang có đông đảo binh mã bao vây bên ngoài. Nhóm người Nguyệt Lục nghiến răng nghiến lợi, xắn tay áo rút đao ra, dáng vẻ như chuẩn bị liều mạng. Nhưng Sở Kiều cảm thấy kỳ quái nên lập tức ngăn bọn họ lại, chỉ để Hạ Tiêu ra ngoài thám thính tin tức.

Hạ Tiêu nhanh chóng trở về, cười báo lại với Sở Kiều là Đốc sát quân của quan phủ nhận mật lệnh đến bảo vệ phủ Tư mã. Thoáng sau thì tiếng động ầm ĩ ở bốn phía đã nhỏ hơn nhiều, có lẽ là tác dụng của đội quân này. Có điều khi nàng hỏi Nguyệt Lục thì viên thị vệ lại gãi đầu, nghi ngờ nói rằng hắn chưa bao giờ nghe nói đến Đốc sát quân gì đó.

Khoảng canh hai thì ở cửa chính đột nhiên nổi lên một trận xôn xao, Sở Kiều vừa mới ra khỏi phòng thì nhìn thấy Gia Cát Nguyệt khoác áo lông tím thẫm vội vã đi đến, hỏi han: “Không làm nàng sợ chứ?”

Sở Kiều cười nói: “Chàng cho rằng ta làm bằng giấy hay sao? Lúc ta ở ngoài giết người phóng hỏa thì chàng còn chưa đầu thai làm người đấy.”

Gia Cát Nguyệt nâng chén trà lên uống một hớp, gượng cười cười rồi ngồi xuống.

Sở Kiều hỏi: “Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?”

Sở Kiều từ trước đến giờ rất hiếm khi hỏi thăm Gia Cát Nguyệt chính sự của Đại Hạ. Một là thân phận của nàng thật sự không nên biết quá nhiều, hai là nàng cũng không có tinh lực xen vào chuyện của người khác. Nhưng chuyện xảy ra tối nay quả thực có khiến nàng hơi bận tâm.

Gia Cát Nguyệt ngẩng đầu lên, nhìn thấy vẻ mặt lo lắng của nàng thì thoáng áy náy, nắm lấy bàn tay lạnh như băng của nàng rồi nói: “Là đám người Cảnh Hàm gây rối, cổng nam cũng bị người của Triệu Dương khống chế, ta phải thoát ra từ cổng bắc nên hơi chậm trễ.”

“Gây rối có ích lợi gì cho bọn họ chứ? Vạn nhất lớn chuyện, hội trưởng lão nhất định sẽ đuổi biên quân trở về biên giới, khi ấy chẳng phải bọn họ sẽ trắng tay ra về sao?”

Gia Cát Nguyệt cười lạnh, “Bọn chúng chính là muốn như vậy.”

Sở Kiều nhíu mày, nghĩ thông liên hệ trong chuyện này thì không khỏi thở dài, nói: “Nguy hiểm thật, may mà chàng nhanh chóng ra ngoài.”

Gia Cát Nguyệt vỗ vỗ mặt nàng, an ủi: “Đừng sợ, ta vẫn chưa đến mức mắc bẫy bởi loại thủ đoạn này.”

Cuộc tranh giành hoàng vị giữa Triệu Triệt và Triệu Dương, cơ bản cũng chính là trận đối đầu của Tây nam quân và quân Đông Hồ. Triệu Dương được Cảnh Hàm và Mộc tiểu công gia trợ giúp thì Triệu Triệt cũng có Gia Cát Nguyệt là cánh tay phải. Hiện tại Hạ hoàng đang nguy kịch, biên quân các nơi đều theo chủ đến trấn giữ kinh đô, biên quân đóng trại ở đế đô vốn đã không hợp quy củ, nếu còn xảy ra hỗn loạn thì chắc chắn sẽ bị xua trở về lãnh thổ của mình. Bất kể là Triệu Triệt, Gia Cát Nguyệt hay Cảnh Hàm, thực lực chính đều nằm ở biên quân, chỉ có Triệu Dương là nắm trong tay Kiêu kỵ binh chính thức đóng ở trong kinh. Ba vạn Kiêu kỵ binh này trên chiến trường có thể là ít ỏi không đáng kể, nhưng nếu toàn bộ biên quân đều bị xua về thuộc địa, Kiêu kỵ binh sẽ trở thành binh lực mạnh nhất đế đô. Lúc đó, nếu Triệu Triệt không theo quân Đông Hồ trở về phương Bắc, chắc chắn sẽ rơi vào tay Triệu Dương, còn nếu hắn trở về thuộc địa thì vị trí kế nhiệm Hạ hoàng khẳng định nằm gọn trong túi của Triệu Dương.

Hạ hoàng bệnh nguy kịch kéo dài một năm thì suốt một năm này, hầu như là ngày nào thành Chân Hoàng cũng diễn ra tiết mục tương tự như hôm nay. Sở Kiều cũng là người dụng binh, dĩ nhiên hiểu được lợi hại trong chuyện này.

Nàng bước tới trấn an Gia Cát Nguyệt, “Chàng phải hết sức cẩn thận, không cần lo cho ta. Trong phủ nhiều thị vệ, cho dù bị một vạn người tấn công thì cũng có thể cầm cự hơn hai canh giờ, lần sau đừng chia quân tới bảo vệ ta nữa.”

Gia Cát Nguyệt nghe vậy thì kinh ngạc hỏi lại: “Ta chia quân về phủ hồi nào?”

Sở Kiều sững sờ, “Vừa rồi quan phủ có điều Đốc sát quân tới bảo vệ phủ chúng ta suốt hơn hai canh giờ.”

Gia Cát Nguyệt nhíu chặt mi tâm, suy nghĩ hồi lâu mới lắc đầu, nói: “Đó không phải là người của ta.”

Sở Kiều nghi hoặc nhìn hắn, vẻ mặt hết sức nghiêm trọng.

Gia Cát Nguyệt mỉm cười, nắm tay nàng, nói: “Không sao, bọn họ hẳn không có ác ý.”

“Là người của Ngụy Thư Diệp sao?”

“Nếu ta đoán không sai thì có lẽ là người của Triệu Thập Tam.”

Trong ngực Sở Kiều như bị tuyết bám vào, thoáng cái đã lạnh như băng. Gia Cát Nguyệt trầm giọng nói tiếp: “Hoàng đế đang nguy kịch, người có thế lực trong thành đều đang ở trong cung, người lúc này không ở trong cung mà có năng lực điều động quan phủ cũng chỉ có hắn.”

Ánh mắt Gia Cát Nguyệt lộ ra một tia ngưng trọng, chậm rãi nói: “Đã lâu như vậy, ta đúng là đã quên mất người này.”

Trong phòng lượn lờ huân hương, nơi này được sửa lại giữ nhiệt rất tốt nên mặc một lớp áo mỏng cũng đủ ấm. Thế nhưng Sở Kiều lại cảm thấy cảm giác lạnh lẽo từ sống lưng lan tràn đến tứ chi rồi xông thẳng lên đại não.

Triệu Tung, Thập Tam hoàng tử, bị Yến Tuân chặt đứt một tay, huynh trưởng của hắn chết dưới tay nàng, mẫu tộc bị nàng và Yến Tuân bày kế lật đổ. Vị hoàng tử từng có tiếng tăm nhất đế đô hiện tại đã bị người khác quên lãng đến độ này? Ngay cả vào cung hầu hạ hoàng đế hấp hối cũng không có phần của hắn?

Gia Cát Nguyệt ôm Sở Kiều vào lòng, nhìn thấy dáng vẻ thất thần của nàng thì đau lòng, nhẹ giọng bảo: “Tinh Nhi, hay là ta đưa nàng đến Thanh Hải trước nhé?”

Sở Kiều vẫn còn thẫn thờ như không nghe thấy, đến khi Gia Cát Nguyệt lặp lại lần nữa thì nàng mới vội vàng lắc đầu, cuống quít nắm ống tay áo hắn, nói to: “Ta không đi đâu hết!” Nói xong thì ngước lên nhìn hắn chằm chằm, dáng vẻ quật cường cố chấp như một chú sư tử con.

Gia Cát Nguyệt thở dài bất đắc dĩ, vòng tay ôm lấy nàng, thấp giọng nói: “Không lâu nữa đâu.”

Đúng vậy, không lâu nữa đâu. Lần nào chư vị đại thần và các hoàng tử diện kiến hoàng đế xong đều trở về nói với người thân cùng thuộc hạ nhà mình: Không lâu nữa đâu, hoàng thượng chẳng còn được bao nhiêu thời gian, bây giờ chỉ đếm được từng ngày thôi.

Nhưng ngày qua ngày, hết hoàng đế bị méo miệng, hoàng đế không còn tỉnh táo, không nhận biết người khác rồi đến hoàng đế ăn uống không được...

Nghe qua thì Hạ hoàng giống như chỉ còn một hơi thở, khoảnh khắc sau sẽ lập tức xuôi tay rời khỏi nhân gian về trời vậy. Nhưng trời càng lúc càng rét, bão tuyết đổ xuống trắng xóa bốn bề, mùa xuân cận kề mà hoàng đế vẫn còn sống, chẳng những chưa chết mà nghe nói thi thoảng còn có thể nói trọn mấy câu, thi thoảng còn mở mắt ra, uống vài muỗng canh.

Không ai biết tấm thân già nua kia đang cầm cự vì cái gì. Hạ hoàng tựa như còn tâm nguyện gì chưa tròn, như đang chờ đợi ai đó, cứ như vậy sống lay lắt, không chịu chết đi, không chịu nhắm mắt.

Không khí trong kinh cũng vì vậy mà luôn trong tình trạng căng thẳng cực độ. Bởi vì không nắm chắc mọi thứ nên chẳng ai dám có gan khởi binh hành thích vua. Thành Chân Hoàng như một cây cung kéo căng, chỉ cần một tiếng động sẽ dẫn đến mưa tên ngập trời. Ngay cả trẻ con mới sinh cũng không dám khóc to trong đêm.

Sáng hôm nay, Gia Cát Nguyệt vừa vào triều thì chợt có người tới gõ cửa phủ.

Thiếu nữ toàn thân phủ áo choàng lông chồn trắng muốt đứng giữa trời tuyết, con ngươi đen nhánh, môi đỏ tươi, thanh lệ thoát tục như một bức họa.

Mặt trời mùa đông treo rất cao, ánh nắng tựa như rọi đến từ một thế giới khác, yếu ớt không chút độ ấm. Sở Kiều khoác áo choàng xanh nhạt đứng ngược gió, ngây người nhìn thiếu nữ trước mặt, thật lâu cũng không nhúc nhích.

Thiếu nữ mỉm một nụ cười rất nhạt, chậm rãi đi đến trước mặt Sở Kiều, thản nhiên nói: “Lục tỷ, không nhận ra ta sao? Tiểu Bát đây.”

Đứa bé gái từng quỳ bên cạnh nàng dưới ánh trăng trong trẻo lạnh lùng, thân thể bé xíu gầy gò như chú sói con thiếu sữa không ngừng dập đầu, thề trước thi thể của các tỷ tỷ ca ca mình, bảo bọn họ chờ, chờ cô bé lớn lên nhất định báo thù cho bọn họ.

Thời gian trôi qua như trận gió, chớp mắt đã không còn bóng dáng. Thoáng cái mà đã mười bốn năm.

Sở Kiều nhớ tối hôm đó, nàng trốn trong đám đông, nghe tiếng cô bé gào khóc gọi tên nàng, gọi nàng đến cứu cô bé. Nhưng đến cuối cùng nàng vẫn không bước ra, để rồi sau đó chỉ có thể lặng lẽ mượn lúc mây đen che kín ánh trăng, đoạt lại từng mẩu thi thể từ trong miệng chó hoang, ngay cả một tấm chiếu an táng cũng không có, chỉ có thể thả từng mẩu thi thể xuống lòng hồ lạnh lẽo.

Mười bốn năm, mười bốn năm, nàng cho rằng Tiểu Bát đã chết, từng vô số lần mơ thấy dáng vẻ quật cường của cô bé, nàng tự trách bản thân suốt mười bốn năm, và cũng vì vậy mà hận Gia Cát Nguyệt lâu đến như vậy.

Hốc mắt nóng lên chực rơi lệ, Sở Kiều vươn tay ra, khóe môi nhẹ nở nụ cười, nhưng nụ cười ấy, ngoài vui mừng còn có lẫn theo sự khổ sở chua xót.

Tiểu Bát cầm tay nàng, thản nhiên cười nói: “Ta lợi hại nhỉ, vẫn còn sống, không ngờ có phải không?”

Hai người cùng nhau vào phòng, Tiểu Bát dường như rất quen thuộc nơi này, tự nhiên đi một vòng rồi ngồi xuống trên góc giường, hít một hơi thật sâu, cười nói: “Gia Cát Tứ vẫn có thói quen thích dùng hương trầm thủy như vậy.”

Nàng nhìn quanh, thuận miệng nói thêm mấy câu, đều là thói quen sinh hoạt của Gia Cát Nguyệt, sau đó còn cầm một quả lựu lên mân mê trong tay.

Sở Kiều nhìn nàng, thiên ngôn vạn ngữ đều đọng trong miệng, không biết bắt đầu hỏi từ đâu.

Tiểu Bát cười với nàng, nói: “Lục tỷ không cần kinh ngạc, ngày đó người bị chó hoang cắn chết không phải là ta, trước lúc hành hình phu quân của tỷ đã đổi ta với người khác, hơn nữa còn nuôi dưỡng ta nhiều năm. Ta và hắn có ân có oán, hôm nay ta đến đây cũng không phải để ép tỷ thực hiện lời hứa ngày đó, bởi vì chính ta cũng đã sớm buông bỏ ý niệm báo thù rồi.”

Trong phòng đột nhiên có gió luồn vào, khiến màn lụa góc tường khẽ lay động, ánh mặt trời xuyên qua chợt trở nên chói chang khiến Sở Kiều bất giác phải nheo mắt lại, không nhìn rõ mặt của người đối diện.

Sở Kiều nhìn Tiểu Bát, trong lòng chợt dâng một cảm giác xa lạ không thể diễn tả. Nàng suy nghĩ một lúc, cuối cùng vẫn nhẹ giọng hỏi: “Tiểu Bát, mấy năm nay muội sống tốt không?”

“Cũng tạm được.” Tiểu Bát lơ đãng nói: “Gia Cát Tứ đối với ta cũng không tệ lắm, có lẽ là nhờ dính hào quang của tỷ. Lúc hắn đến chỗ Ngọa Long tiên sinh bái sư, cũng có dẫn ta theo, cho phép ta học chữ, có điều luôn hạn chế tự do của ta, ta bỏ trốn mấy lần đều bị hắn bắt lại. Cứ như vậy qua nhiều năm, mãi đến khi...”

Nói đến đây, Tiểu Bát nhướng mắt nhìn Sở Kiều một cái rồi bật cười, nói: “Mãi đến khi bên ngoài truyền về tin hắn chết ở Bắc Yến, hắn bị Gia Cát gia trục xuất, hạ nhân trong Thanh Sơn viện đều bị đuổi ra khỏi nhà thì ta mới được tự do. Sau đó ta lang thang ở bên ngoài, thân nữ đơn côi, lại chẳng có tay nghề gì để kiếm sống, ta liền lưu lạc chốn phong trần. Bươn chải trong thanh lâu hơn một năm thì gặp được Thập Tam điện hạ, vẫn là nhờ phúc của Lục tỷ, bởi vì diện mạo giống tỷ nên thoáng cái đã được điện hạ chú ý, bây giờ thân phận của ta là gia nô trong vương phủ. Ha ha, lăn lộn nhiều năm như vậy mà vẫn chỉ là một đứa nô lệ, có điều đãi ngộ được nâng cao hơn chút.”

Sở Kiều lẳng lặng nghe Tiểu Bát nói chuyện cũ bằng ngữ khí thờ ơ, nghe nàng nhắc đến Triệu Tung, nhớ đến cô gái mặc nam trang trên núi Hương Chi nhìn thấy mấy ngày trước thì không khỏi khẽ nhíu mày, trầm giọng hỏi: “Muội đã sớm biết ta ở thành Chân Hoàng, vì sao không đến tìm ta?”

“Tìm tỷ để làm gì?” Tiểu Bát ném sang một cái nhìn sắc lẹm, lạnh lùng nở một nụ cười giễu cợt, từ tốn nói: “Lục tỷ hôm nay có thân phận cao quý, vừa là Tú Lệ tướng quân của Bắc Yến, vừa là Tú Lệ vương của Biện Đường, lại sắp sửa trở thành Tư mã phu nhân của Đại Hạ. Ta chỉ là một nô lệ bé nhỏ, tùy tiện chạy tới làm thân chẳng phải sẽ khiến Lục tỷ mất mặt sao?”

Ánh mắt của Tiểu Bát cực kỳ lạnh lùng, hơn nữa khi nói đến bốn chữ 'Tư mã phu nhân' thì trong mắt tựa như tóe lửa.

Lư hương trong góc nhẹ nhàng tỏa ra làn khói lượn lờ, hòa lẫn với ánh nắng tạo thành một dải lụa vàng mềm mại như nước trên không trung. Gian phòng yên tĩnh như tờ, Sở Kiều lặng lẽ nhìn Tiểu Bát, ngọn lửa trong lòng dần nguội đi từng chút một, lời đã đến khóe môi nhưng cuối cùng đều bị nuốt xuống bụng. Trong đầu như có bão tuyết bao phủ, mịt mù và giá lạnh.

Sở Kiều nghe được mình cất giọng bình tĩnh hỏi: “Vậy vì sao hôm nay lại đến?”

“Điện hạ sắp phải đi, ta muốn cầu tỷ xin cho ta văn thư giải trừ nô tịch, để ta có thể đi theo điện hạ.”

Sở Kiều thoáng kinh ngạc, “Triệu Tung sắp phải đi đâu?”

“Còn có thể đi đâu? Đi Yến Tắc trông trường ngựa, đường đường là thân vương Đại Hạ, hoàng tử do hoàng hậu thân sinh mà lại bị biếm đi coi sóc trường ngựa.” Biểu tình trên mặt Tiểu Bát chợt trở nên tối tăm, nàng lạnh lùng nói, từng câu chữ như chen qua khẽ răng, ngữ khí chứa đựng sự tức giận không thể áp chế.

“Tại sao?”

“Còn có thể tại sao ngoài vì tỷ?” Tiểu Bát quay đầu lại, lạnh lùng nói: “Sau khi bị chó Bắc Yến chặt đứt một cánh tay, điện hạ luôn giấu mình trong phủ, không còn màng đến phân tranh trong triều hay cuộc chiến đoạt hoàng vị. Các hoàng tử khác bận rộn tranh quyền đoạt lợi nên cũng chẳng ai chú ý đến ngài. Nhưng mấy hôm trước ngài lại điều động binh mã của quan phủ, hơn nữa còn rõ ràng công khai là để bảo vệ các người. Tỷ cho rằng Thập Tứ điện hạ còn có thể để ngài tiếp tục giữ thân phận như vậy ở lại kinh thành sao?”

Tay Sở Kiều lạnh lẽo tột độ, đầu kêu ong ong, giọng nói sắc lạnh và giận dữ của Tiểu Bát vang ở bên tai, “Ta không cầu tỷ nghĩ cách để điện hạ được ở lại kinh, chỉ cầu tỷ giúp ta xin một tờ văn thư. Điện hạ không chịu mang ta theo thì ta sẽ tự mình đi theo, ít nhất cũng có thể sớm hôm hầu hạ cơm nước, để ngài không phải cô đơn một mình trên đường. Điện hạ có ơn với ta, ta tuyệt đối sẽ không như hạng người vong ân phụ nghĩa, lấy oán trả ơn.”

Một lúc lâu sau Sở Kiều mới ngẩng đầu lên, chăm chú nhìn khuôn mặt xinh đẹp của Tiểu Bát, điềm tĩnh nói: “Tiểu Bát, muội nhất định phải rạch ròi xa cách với ta như vậy?”

“Lục tỷ nói gì vậy, người có thân phận gì, còn Tiểu Bát có thân phận gì, sao dám trèo cao? Huống chi...”

“Nếu muội còn nói những lời này thì mời rời khỏi đây ngay lập tức cho ta, khỏi cầu xin gì nữa, coi như ta không có người muội muội này!” Sở Kiều đột nhiên tức giận nói to.

Tiểu Bát sững người, ngơ ngác nhìn Sở Kiều, nhất thời một câu cũng không nói nên lời.

“Muội đang oán cái gì? Đang giận cái gì? Oán ta ban đầu không thể bảo vệ muội, không thể dẫn muội đi? Hay là giận ta không báo thù cho Hiệp Tương và Lâm Tích, hơn nữa còn nhận kẻ thù làm chồng?” Sở Kiều nén giận nói tiếp: “Những năm qua, muội cực khổ, ta chưa chắc đã sung sướng. Ta tưởng muội đã chết, tự trách bản thân suốt mười bốn năm, bây giờ muội tìm đến tận cửa nói những lời chế giễu trào phúng để biểu đạt tình tỷ muội đó à?”

Nắng trưa chiếu qua cửa sổ để lại vô số cái bóng loang lổ trên mặt đất, Sở Kiều đứng dậy, lạnh lùng nhìn Tiểu Bát: “Đã mười bốn năm, thời gian này xảy ra bao nhiêu chuyện? Trong đầu muội chỉ toàn nghĩ đến bất hạnh cùng bi ai của bản thân, sau đó đều đổ tội hết lên đầu người khác. Ta thật nghi ngờ, muội có thật sự là người muội muội dũng cảm kiên cường của ta năm đó không vậy? Muội tự lấy tên Vô Tâm, chẳng lẽ cũng thật sự không có tâm luôn sao?”

Tiểu Bát đứng chết trân tại chỗ, mặt tái nhợt. Sở Kiều đột nhiên cảm thấy mệt mỏi vô cùng, sức lực như thoáng cái liền bị rút cạn.

Nàng chậm rãi xoay người sang chỗ khác, lạnh nhạt nói: “Muội đi đi, chuyện của Triệu Tung ta sẽ tìm cách xử lý.” Dứt lời thì đi về phòng.

Một lúc lâu sau Tiểu Bát mới rời đi, Sở Kiều xuyên qua khe cửa sổ nhìn nàng được mấy người Mai Hương đưa ra khỏi phủ Tư mã. Bóng lưng rất gầy, y phục truyền trắng khiến nàng như hòa làm một với màn tuyết mịt mù.

Nhớ đến lời Tiểu Bát vừa nói, bị giam lỏng, một mình lang thang, lưu lạc chốn phong trần...

Sở Kiều cắn chặt môi, cảm giác thống khổ dần lấp đầy tim. Nàng cứ thế một mình ngồi bên cửa sổ, mãi đến khi hoàng hôn buông xuống.

Gia Cát Nguyệt ôm lấy nàng từ phía sau, thấp giọng nói, ngữ khí mang theo chút trách cứ, “Tối rồi sao còn chưa dùng bữa?”

Sở Kiều thuận thế tựa vào trong ngực Gia Cát Nguyệt, cả người đột nhiên buông lỏng, tựa như chú cá mắc cạn vừa được thả vào trong nước. Nàng cầm tay hắn, bàn tay thật lớn, có thể bao trọn bàn tay nhỏ bé của nàng. Nàng ũ rũ không muốn nói chuyện, cứ như vậy lật xem lòng bàn tay hắn, tỉ mỉ đếm từng vết chai.

“Tiểu Bát đến có phải không?”

“Ừ.” Sở Kiều gật đầu, “Chàng đã biết từ sớm, vì sao không nói ta biết?”

“Có định nói, nhưng vẫn không tìm được cơ hội.” Gia Cát Nguyệt cười cười, hơi bất đắc dĩ nói: “Bất kể nàng có tin hay không, trong lòng ta vẫn luôn canh cánh chuyện này, tựa như một loại tâm bệnh vậy. Dù sao thì những năm đó, ta đối xử với muội ấy cũng không thể nói là quá tốt, muội ấy bỏ trốn mấy lần, ta bắt về đều đánh một trận. Ta năm đó tính tình vẫn còn cổ quái, cứu xong lại không muốn thả đi, một mực giam lỏng muội ấy. Lúc tâm trạng tốt thì dạy muội ấy học chữ, tập võ. Lúc tâm trạng không tốt, nhìn thấy muội ấy lớn lên giống nàng thì càng mặt nặng mặt nhẹ. Mấy năm sống trên núi, ta không mang theo thị nữ, chỉ để muội ấy hầu hạ bên người. Bây giờ nghĩ lại, tính tình muội ấy cổ quái như vậy, có lẽ đa phần là tại ta.”

“Tiểu Bát đã ở cạnh Triệu Tung bao lâu rồi?”

“Có lẽ khoảng hai ba năm.” Gia Cát Nguyệt nhớ lại, “Nghe nói rất được Triệu Tung yêu chiều, muội ấy từng hại chết một sủng cơ trong phủ nhưng Triệu Tung cũng không trách tội.”

Sở Kiều im lặng một hồi mới chậm rãi nói: “Tiểu Bát hình như có ý với Triệu Tung.”

Gia Cát Nguyệt cười nói: “Bất kể muội ấy có ý với ai, chỉ cần nàng không tức giận với ta là được.”

“Còn chuyện Triệu Tung là thế nào vậy?”

“Nàng yên tâm, Triệu Dương muốn một tay che trời còn phải hỏi xem chúng ta có cho phép hay không. Chỉ là ta cảm thấy Triệu Tung rời khỏi kinh cũng không có gì không tốt. Hoàng thành sớm muộn gì cũng sẽ xảy ra đại loạn, hắn rời khỏi đây sẽ an toàn hơn là ở lại.”

Sở Kiều cũng từng nghĩ đến vấn đề này, nên cau mày hỏi: “Vậy làm sao bây giờ?”

“Ta dự định để hắn đến Khương Hồ, thứ nhất, ở đó gần phía Bắc, thuộc phạm vi thế lực của Triệu Triệt. Thứ hai, ở đó tụ tập đông đảo người Khương, kinh tế sung túc, đời sống người dân khá cao, khí hậu gần biển nên rất ôn hòa.”

Sở Kiều gật đầu, “Vậy cứ làm theo lời chàng đi.”

“Ừ, ngày mai ta sẽ sắp xếp chuyện này. Nàng có muốn đưa tiễn, gặp mặt hắn một lần không?”

Sở Kiều im lặng suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng lắc đầu, “Không cần, hắn có lẽ cũng chẳng muốn gặp ta đâu.”

Gia Cát Nguyệt vẫn nói: “Nhưng ta cảm thấy nàng vẫn nên đi gặp hắn một lần.”

Thấy Sở Kiều ngẩng đầu lên, cau mày nhìn mình, Gia Cát Nguyệt bật cười, nói: “Đừng nhìn ta như vậy, ta không có ý gì khác, chỉ không muốn nàng mãi tự oán trách bản thân như vậy. Chuyện năm đó không thể trách nàng.”

Năm đó?

Ánh mắt Sở Kiều dần trở nên mông lung, trong đầu lại thoáng hiện lên hình ảnh trên núi Hương Chi ngày ấy, nam tử lẳng lặng đứng giữa bốn bề ngập lá phong, một ống tay áo trống rỗng, bay phần phật trong gió.

Ký ức phủ bụi lại bị đào lên, cảnh còn người mất, chỉ có rừng lá phong là vẫn vĩnh viễn không đổi.

m4Pƕ^ T

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.